KẾT LUẬN SỐ 105 ĐỘT PHÁ TRONG THU HÚT, TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI, TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Thu hút và trọng dụng nhân tài là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Kết luận số 105-KL/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn đã xác định những quan điểm, mục tiêu và giải pháp quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ nhân tài chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài. Từ năm 2018 đến nay, khu vực công đã thu hút, tuyển dụng hơn 1.500 sinh viên xuất sắc, nhà khoa học trẻ. Trong khu vực tư, nhiều doanh nghiệp lớn như Viettel, Vingroup, Petrovietnam, VNPT, FPT và Phenikaa đã triển khai các cơ chế thu hút người giỏi gắn với những nhiệm vụ công nghệ quan trọng.

Tuy nhiên, công tác nhân tài vẫn còn những hạn chế như nhận thức chưa thống nhất, chính sách còn phân tán, thiếu liên thông giữa khu vực công và khu vực tư, giữa trong nước và nước ngoài. Việc phát hiện, bồi dưỡng, bố trí và trọng dụng nhân tài ở một số nơi chưa tương xứng với năng lực, trình độ. Theo Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu năm 2025, Việt Nam xếp thứ 76 trong 135 nền kinh tế, đứng thứ 5 trong ASEAN. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị nhân tài, tạo môi trường thuận lợi để người có năng lực được phát hiện, giao nhiệm vụ và phát huy hiệu quả.

Kết luận số 105-KL/TW xác định năm quan điểm chỉ đạo, trong đó nhấn mạnh nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia; công tác thu hút, trọng dụng phải có trọng tâm, trọng điểm, gắn với các chương trình, dự án và nhiệm vụ chiến lược. Đồng thời, cần chuyển từ quản lý theo tổ chức, biên chế sang quản trị và phát triển nhân tài, lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo. Công tác này đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, với sự tham gia của Nhà nước, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và toàn xã hội; từng bước hình thành hệ sinh thái nhân tài hiện đại, mở, liên thông và hội nhập quốc tế.

Về mục tiêu, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách về nhân tài; thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia ở cả khu vực công và khu vực tư, gắn với nhiệm vụ, sản phẩm và đóng góp cụ thể. Cùng với đó là vận hành hạ tầng số quốc gia về nhân tài, hình thành hệ sinh thái nhân tài mở, liên thông và phấn đấu thuộc nhóm ba nước đứng đầu ASEAN về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu chủ động bảo đảm nguồn lực nhân tài, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về chỉ số này.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Kết luận đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất nhận thức và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong phát hiện, lựa chọn, thu hút và trọng dụng nhân tài. Doanh nghiệp được xác định là một chủ thể quan trọng trong phát hiện, tiến cử và sử dụng người tài.

Cùng với đó, cần hoàn thiện thể chế, chính sách về tiền lương, nhà ở, thuế, an sinh xã hội và điều kiện làm việc; tập trung nguồn lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn. Kết luận định hướng bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài khoảng 0,1% tổng sản phẩm trong nước hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phương thức cấp kinh phí cần chuyển mạnh sang đặt hàng, khoán chi, tài trợ theo sản phẩm và kết quả, đồng thời huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và xã hội.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là đổi mới cách phát hiện, lựa chọn, đánh giá nhân tài theo hướng đúng người, đúng việc, đúng sở trường. Người tài cần được giao nhiệm vụ xứng tầm, trao thẩm quyền thực chất và bảo đảm nguồn lực tương ứng. Việc đánh giá phải căn cứ chất lượng sản phẩm, hiệu quả công việc và giá trị đóng góp; đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình, đạo đức liêm chính và tinh thần cống hiến.

Kết luận cũng nhấn mạnh việc chủ động tạo nguồn nhân tài từ sớm, chú trọng đào tạo tài năng trẻ, phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu và phát triển cơ chế “nhân tài dẫn dắt nhân tài”. Các cấp, các ngành cần xây dựng văn hóa trọng dụng người thực tài, khắc phục tâm lý đố kỵ, e ngại người giỏi; mở rộng quyền tự chủ chuyên môn và tạo điều kiện để nhân tài nghiên cứu, khởi nghiệp, chuyển giao, thương mại hóa kết quả khoa học. Hợp tác quốc tế cần được đẩy mạnh, nhất là trong thu hút chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia những nhiệm vụ chiến lược tại Việt Nam.

Về tổ chức thực hiện, Kết luận phân công nhiệm vụ cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan Trung ương và các tổ chức liên quan; yêu cầu cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Chương trình hành động cần xác định rõ cơ quan chủ trì, thời hạn, sản phẩm và nguồn lực thực hiện, bảo đảm triển khai đồng bộ, thiết thực, hiệu quả.

Kết luận số 105-KL/TW thể hiện quyết tâm đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài, coi trọng năng lực thực chất, hiệu quả cống hiến và giá trị tạo ra cho xã hội. Mỗi cấp ủy, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người đứng đầu cần chủ động phát hiện, tạo cơ hội, giao trọng trách và bảo đảm điều kiện để nhân tài phát huy khả năng. Qua đó, góp phần xây dựng môi trường nơi người tài được tôn trọng, tin tưởng, yên tâm cống hiến, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

 

Bùi Quang Tiệp
QR Code
image advertisement
image advertisement

Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0